Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc bài viết của Nguyễn Siêu, cựu học sinh xuất sắc của trường Thực nghiệm, tốt nghiệp bằng Cử nhân Điện ảnh và Truyền thông tại đại học Vassar, New York (top 12 nước Mỹ), hiện đang làm việc tại Paramount Network.
- 12-09-2018 GS Hồ Ngọc Đại và 12 san sớt ấn tượng
- 11-09-2018 vì sao “Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục” của GS Hồ Ngọc Đại chưa thể trở nên...
- 11-09-2018 "Dược vương" Tôn Tư Mạc: Huyệt thần kỳ có thể chữa bách bệnh, kể cả những bệnh...
Ngày xưa tôi học trường tiểu học Thực Nghiệm (Ba Đình, Hà Nội). Chương trình tôi được giảng dạy trong 5 năm 2001-2005 chính là chương trình Công nghệ giáo dục của thầy Hồ Ngọc Đại hiện đang gây nhiều tranh luận. Sau bài viết hôm trước giảng giải tại sao chúng tôi lại học ngôn ngữ từ những hình tròn, hình vuông, tôi nhận được nhiều tin nhắn hỏi rằng ngoài những khối tròn vuông ấy thì chúng tôi còn được học gì ở trường Thực Nghiệm nữa. Để đưa ra một bức tranh toàn cảnh hơn về chương trình giáo dục mà mọi người đang cho là "khác biệt" này, tôi muốn san sớt tất tần tật những điều dưới đây về 5 năm đi học có nhẽ là vui nhất, hạnh phúc nhất, hiếu kỳ nhất của mình.
Ở trường Thực Nghiệm, chúng tôi luôn tự hiểu rõ bộ sách giáo khoa mình học có rất nhiều điểm dị biệt so với các bạn trường khác. Tôi vẫn luôn thấy kiêu hãnh về điều này, mặc dầu trong con mắt của nhiều người sự khác biệt là một điều mạo hiểm.
Nguyễn Siêu đã tốt nghiệp bằng Cử nhân Điện ảnh và Truyền thông tại đại học Vassar, New York (top 12 nước Mỹ), hiện đang làm việc tại Paramount Network.
1. TÔI ĐÃ THI VÀO LỚP 1 TRƯỜNG THỰC NGHIỆM THẾ NÀO?
Ngày ấy, tôi không đơn giản chỉ nộp hồ sơ rồi nghiễm nhiên trở nên một học sinh Thực Nghiệm. Tôi phải đăng ký dự thi cùng rất nhiều bạn khác. Bài thi không rà vốn hiểu biết, mà kiểm tra phản xạ và lối suy nghĩ logic. Chúng tôi được phát cho những mẩu giấy hình tròn, hình vuông, hình tam giác. Cô giáo sẽ đọc một bài thơ, cứ khi nghe thấy một từ nào đó được yêu cầu trước (ví dụ như khi nghe thấy từ "cò" trong một bài ca dao cô đọc), thì sẽ đặt một hình tam giác xuống bàn. Hoặc như trong bài thi của tôi, cô giáo đọc một truyện ngắn và sau đó hỏi lại là con gấu trong truyện "gừ" mấy tiếng. Đó một trong những bài thi đầu đời tôi phải vượt qua để có một suất trong ngôi trường này.
2. CHÚNG TÔI HỌC KHỐI VUÔNG, KHỐI TRÒN, VÌ TRONG thiên nhiên CON NGƯỜI PHÁT ÂM TRƯỚC KHI BIẾT VIẾT CHỮ
Nếu sách giáo khoa đại trà dạy chữ trước (và bắt đầu bằng chữ "e"), thì trường Thực Nghiệm dạy về âm trước, do thuận theo thiên nhiên thì chúng ta biết nói trước khi biết viết. Ký hiệu mỗi "tiếng," tức đơn vị ngữ âm hoàn chỉnh được phát ra, bằng hình tròn, hình vuông là để chúng tôi nhận biết nếu mắt nhìn thấy 8 tiếng, thì miệng cũng phải phát ra 8 tiếng, 8 âm thanh. Hình khối cũng chỉ là "vật thay thế" cho "vật thật," tức âm thanh, một triết luận căn bản của ngôn ngữ và truyền thông. Đây chỉ là những bài học đầu, trước khi học trò Thực Nghiệm bắt đầu học cụ thể về mặt chữ, rồi mới học về nghĩa.
Khi học về âm, điều quan yếu là làm thế nào để học trò "quên" đi nghĩa, khiến chúng tụ họp 100% vào cách phát âm, rồi sau khi nắm chắc kiến thức ngữ âm thì mới học tiếp các khía cạnh khác của tiếng nói. Đó chính là phương pháp căn bản của khoa học giáo dục mà có lẽ nhiều người không hiểu - Nguyễn Siêu.
Khi đã bạn biết tới tận tình đầu của một thứ gì đó và bạn muốn truyền đạt điều này cho ai đó, bạn luôn muốn truyền đạt sờ soạng mọi thứ một lúc, giải thích thật cặn kẽ để họ có thể hiểu được một vấn đề từ A tới Z. Tuy nhiên, học sinh tiểu học không nghĩ suy như vậy. Muốn giảng dạy một vấn đề phức tạp như tiếng nói, phải đi thật chậm, thật dần dần, phải dạy riêng rẽ từng thứ một. Đây là tại sao "giáo dục" là một ngành, chứ không phải ai muốn "dạy" là cũng "dạy" được. "Giáo dục" cần phương pháp.
Một ví dụ là tôi học Hoá cấp 2, có những hợp chất với sắt (vì sao có cả FeS lẫn FeS2) tôi thấy được viết không giống lề luật được học khi thăng bằng phương trình hoá học, nhưng lúc ấy cô giáo bảo cứ biết là như vậy, tới cấp 3 mới bắt đầu học về hoá trị với số oxi hoá, lúc ấy mới hiểu lý do đằng sau những cái "bất lệ luật" kia. Có những cái phải để từ từ, theo thời gian rồi dần dần học sẽ hiểu, không thể một dạy một lúc được luôn. Trong trường hợp này cũng vậy, để tập trung vào "âm," học trò cần quên phần "nghĩa" trợ thì. Những hình vuông, hình tròn sinh ra để thay thế cũng một phần vì mục đích này.
Sách Tiếng Việt lớp 1 của trọng tâm thực nghiệm giáo dục phổ thông năm 1987. (Ảnh: Facebook).
3. KHỐI VUÔNG, KHỐI TRÒN trở thành có ích CHO VIỆC TÁCH VẦN
Từ việc sử dụng hình khối để "đại diện" cho "tiếng," chúng tôi bắt đầu "đặt" tiếng vào hình khối để phân tích chúng ra. Chúng tôi đặt tiếng "ba" vào một hình chữ nhật, kẻ hai vạch thẳng song song để tách âm "b" và âm "a" ra (nhìn hình minh hoạ bên dưới). Từ đây, chúng tôi được học là một "tiếng" có thể có hai phần, là "phần đầu" và "phần vần." Tiếp theo, trong "phần vần," chúng tôi tiếp chuyện kẻ hai vạch thẳng để tách thành 3 phần: "âm đệm," "âm chính" và "âm cuối." thí dụ như từ "LOAN" (tên mẹ tôi), "L" là phần đầu," "O" là âm đệm, "A" là âm chính, "N" là âm cuối. Chúng tôi được học là trong 4 phần trên, một tiếng có thể mất âm đầu, âm đệm và âm cuối, nhưng luôn có âm chính, chẳng thể thiếu được. Dấu thanh cũng được đặt lên phía trên của mô hình chữ nhật này để thay đổi cách phát âm.
Đây là một cách học phát âm giàu tư duy hình ảnh, và chính vì nó mà tôi phát âm tiếng Việt rất nhanh. Mỗi khi nhìn vào một "tiếng," tôi đầu hình dung trong đầu mô hình này và có thể phát âm được tức khắc. Bên cạnh đó, tôi cũng muốn san sẻ về mặt cá nhân rằng nhờ cách học này mà tới bây chừ tôi tư duy hồ hết mọi thứ đều bằng hình ảnh. Tôi ghi nhớ một kỷ niệm bằng hình ảnh. Tôi phân tách truyền thông bằng hình ảnh. Tôi thậm chí cũng dùng một ấn tượng hình ảnh để ghi nhớ âm thanh.
Tôi không biết lối tư duy hình ảnh này có vượt trội hơn những lối tư duy khác hay không, nhưng nó khiến cá nhân chủ nghĩa tôi đánh giá một sự vật, sự việc nhanh nhẹn hơn, cuộc sống cũng dễ dàng hơn nhiều phần - Nguyễn Siêu.
4. ĐÁNH VẦN "IÊ" LÀ "IA" LÀ THEO ÂM CHỨ KHÔNG PHẢI THEO CHỮ
Ngoài hình vuông, hình tròn, một trong những điều mọi người tranh cãi là vì sao lại đánh vần "iê" là "ia" mà không phải là "i-ê." Theo như tôi đã viết ở trên, triết lý Công nghệ giáo dục là dạy âm thanh trước, chữ theo sau và phục vụ cho âm thanh. Đánh vần bởi thế dựa vào âm thanh chứ không phải dựa vào cách viết. "iê" không phải là hai nguyên âm, mà là một nguyên âm ĐÔI, vì chúng ta không bao giờ để chúng đứng một mình không có âm cuối. tỉ dụ như chúng ta viết "Sia" chứ không bao giờ viết "Siê," và để viết "Siê" thì phải có một âm cuối, thí dụ như "Siêu" thì nó mới tồn tại. thành ra, "iê" chỉ là một THỂ DẠNG khác của nguyên âm "ia" chứ không phải một thực thể của riêng nó. Cách đánh vần "iê" vì thế cũng là "ia," chứ không phải là "i-ê." Trong mô hình chữ nhật diễn đạt "tiếng" ở bên trên, "iê" cũng được viết CÙNG NHAU trong ô "âm chính," chứ không phải viết "i" ở âm đệm và "ê" ở âm chính, vì chúng đi liền nhau trong một "nguyên âm đôi." Nguyên âm đôi cũng là một trong những điều chúng tôi học chung cục, và cũng là khó nhất, trong phần ngữ âm này, nhưng chúng thực thụ không hề khó một khi bạn hiểu thực chất vấn đề. Người lớn có thể thấy khó hiểu vì họ quen khái niệm "đánh vần" nghĩa là "đọc" lại chữ viết, nghĩa là chữ có trước, âm thanh có sau. Công nghệ giáo dục quan niệm trái lại. "Đánh vần" là đọc bật lên một âm thanh, độc lập khỏi con chữ, vì âm thanh có trước, chữ chỉ để ghi lại âm thanh mà thôi.
Sách Công nghệ giáo dục hiện nay.
5. "GÀ QUÉ," "ĐI BỂ," "QUẢ MUỖM" DẠY CÁCH TRÂN TRỌNG SỰ dị biệt TRONG MỖI ĐỊA PHƯƠNG.
Nhiều người tự hỏi, vì sao lại dạy trẻ nít những từ mà nó còn không biết nghĩa là gì. thí dụ, "bể" là từ địa phương, vì sao lại dạy trẻ một phương ngữ không quen thuộc? Thứ nhất, như đã nói ở trên, chương trình này dạy cách phát âm trước hết, và trong quá trình học âm, chúng ta chưa quan trọng ngữ nghĩa. Thứ hai, những người chỉ trích điều này có nhẽ quên mất, đi học là để tiếp thu những điều mới, chứ không phải chỉ làm quen với những thứ quen thuộc. Tôi nhớ hồi học tới từ "bể," tôi cũng thắc mắc hỏi cô, thì được giảng giải "bể" là một từ đồng nghĩa với "biển," có những địa phương khác dùng. Một giây sau, tôi hiểu ngay, ham thích, chứ không thưỡn thẹo không chịu học như một vài câu chuyện trên mạng. Đây là kiến thức mới, mình đến trường để học cái mới, chứ vì sao lại đòi chỉ học những cái thân thuộc?
Nhờ học được từ "bể" mà tôi mới à ra, vì sao người ta lại gọi là "nem cua bể." Nó dạy cho tôi hai điều: một là cách liên kết giữa những từ đồng nghĩa với nhau, để biết nhiều hơn, tăng vốn từ cho mình, và hai là biết rằng Việt Nam có rất nhiều địa phương khác nhau, nhiều thành thị khác nhau, nhiều phương ngữ khác nhau, từ đó hiểu thêm rằng không phải ai cũng nói giống mình, dùng từ giống mình, biết cách trân trọng sự dị biệt.
Chuyện bé xách đỡ mẹ gây tranh cãi.
6. CÂU CHUYỆN "BÉ XÁCH ĐỠ MẸ" DẠY TƯ DUY PHẢN BIỆN
Tôi cũng từng được học câu chuyện "Bé xách đỡ mẹ," hiện đang bị nhiều người phê phán là mất dạy, dạy cho trẻ em thói hư tật xấu. Tôi có thể san sớt trong trải nghiệm của tôi, là tôi đã từng đọc câu chuyện này ở trường Thực Nghiệm, và tới ngày bữa nay vẫn chưa một lần vô ơn với ai. Hồi đó, khi đọc câu chuyện này, tôi chỉ cười. Tôi cười vì tôi hiểu thằng bé rỡ ràng, láu cá. Tôi cười vì tôi biết đây chỉ là một câu chuyện cười thâm thuý mà thôi. Ở 6 tuổi, tôi nghĩ một đứa trẻ con đã hiểu đủ để biết đây không phải là cách cư xử nhà trường đang khuyến khích. Ở 6 tuổi, một đứa trẻ thơ đã đủ thông minh để biết đây chỉ là một truyện cười. Trong trường Thực Nghiệm, chúng tôi chưa bao giờ được các cô bắt đọc một câu chuyện và đề nghị, "Hãy làm đúng y hệt những gì người ta làm." Không, những bài đọc trong sách Thực Nghiệm không mang tính chất giáo lý, mục đích không phải để khiến trẻ xác nhận là ĐÚNG và học theo.
Những bài đọc này khuyến khích trẻ tự hỏi bản thân mình, cái gì ở đây hay, cái gì không hay, cái gì buồn cười, vì sao lại buồn cười. Đây là chủ chốt của TƯ DUY PHẢN BIỆN. Ở Thực Nghiệm, chúng tôi đã được học tư duy phản biện từ rất sớm như thế. Chúng tôi không học theo kiểu cái gì nhà trường giảng thì mình tự coi là đúng. Chúng tôi học cách tự đưa ra đánh giá, nhận xét của mình - Nguyễn Siêu.
7. CHÚNG TÔI ĐƯỢC HỌC LÀM THƠ NĂM LỚP HAI, HỌC TRUYỆN KIỀU NĂM LỚP BỐN, văn chương NGA NĂM LỚP NĂM
Lên lớp 2, Công nghệ giáo dục tiếp tục trung tâm vào dạy âm thanh. Chúng tôi được học thanh bằng và thanh trắc sớm hơn nhiều chương trình khác. Chúng tôi được học về cách gieo vần trong thơ. Có hai cách chúng tôi làm quen ở thời khắc này là vần chân và vần lưng. Vần chân là vần cuối câu, ví dụ như "Hạt gạo làng TA/Có vị phù SA." Vần lưng là vần giữa câu, tỉ dụ như "Tôi lại về quê mẹ nuôi XƯA/Một buổi TRƯA nắng dài bãi cát." Một lần nữa, cách gọi "vần CHÂN" và "vần LƯNG" nối giúp tư duy hình ảnh của chúng tôi được phong phú hơn (nhìn dáng thơ như một dáng người). Chúng tôi hồi ấy rất thích được ngồi làm thơ trong lớp. Cô đọc một câu thơ 4 chữ, chúng tôi sẽ gieo vần chân hoặc vần lưng để viết nên hẳn một bài thơ. Những bài học này giúp tôi cảm nhịp, cảm vần khá tốt.
Lên lớp 4, chúng tôi được học Truyện Kiều, một điều có nhẽ không có trong đại phần nhiều chương trình khác. Một trong các đoạn trích được học là "Kiều ở lầu Ngưng Bích," nên khi học lại ở chương trình lớp 8 tôi không còn bỡ ngỡ chút nào. Chúng tôi bên cạnh đó cũng được đọc rất nhiều tác phẩm nước ngoài, từ Chekov tới Leo Tolstoy. Tôi vẫn nhớ như in câu chuyện "Vanka" về cậu bé nghèo khổ, bất hạnh của nhà văn Chekov, khi đọc tôi khóc rất nhiều. Tôi mường tượng ra cuộc sống oái oăm của một đứa bé phải mưu sinh trong khu ổ chuột trên ở Nga bóng gió. Đọc những tác phẩm này từ khi còn rất sớm, chúng tôi được học cách thông cảm. thông cảm với số phận của cô Kiều. Cảm thông với Vanka bất hạnh. Học Tiếng Việt, nhưng không chỉ học về ngôn ngữ, mà còn học về xúc cảm, về cách đối nhân xử thế, cách nhìn thế giới to rộng ngoài kia. Có mỗi câu chuyện "Bé xách đỡ mẹ" mà ai cũng lao nhao lên chửi, trong khi những tác phẩm trưởng thành, những bài học làm người trong cùng một chương trình thì người ta không đoái hoài tìm hiểu quan hoài.
Để học về sự thông cảm, khả năng thấu cảm con người, chúng tôi cũng thẳng tính có bài tập phải kể lại một câu chuyện dựa trên con mắt của một nhân vật. Tôi vẫn muốn viết một tí về điểm này dù nhiều bạn ở trường khác cũng được dạy làm văn tương tự. Chúng tôi không kể lại truyện "Cây tre trăm đốt" theo lời anh dân cày hay theo lời ông Bụt, mà phải hoá thân thành phú ông. Chúng tôi phải đóng vai ác! Nhưng khi đóng vai ác, chúng tôi không thể viết, "Tôi là phú ông và tôi ác." Chúng tôi phải thật sự đặt mình vào tâm lý của nhân vật để hiểu, tại sao phú ông làm thế, với tư cách là một con người. tại sao người ta làm việc ác? Từ những bài văn này, chúng tôi học được một điều là dù rằng truyện cổ tích luôn rõ ràng "thiện" – "ác," nhưng trong thực tế, chẳng ai hoàn toàn "thiện" mà cũng chẳng ai hoàn toàn "ác." Ai cũng có những lý do của mình để thực hành một điều gì đó. Tâm lý con người là rất phong phú, nên trước khi tìm hiểu, kết luận về ai đó, hãy đặt mình vào vị trí của họ. Tư duy phản biện, một lần nữa, lại được chú trọng trong cách giảng dạy này.
Chân dung chàng trai Nguyễn Siêu.
8. CHÚNG TÔI HỌC TOÁN TỪ HỆ NHỊ PHÂN TRƯỚC, RỒI MỚI TỚI HỆ THẬP PHÂN
Hồi ấy khi học Toán về, bố tôi rất sửng sốt vì tại sao tôi lại đếm các số liên tục là "0, 1, 10, 11, 100, 101, 110." Hoá ra là chúng tôi được học hệ đếm nhị phân trước khi học hệ đếm thập phân. Bắt đầu từ những nấc thang nhỏ, những thứ đơn giản nhất, chúng tôi học một hệ đếm chỉ có hai số 0 và 1. Sau đó, mở rộng ra là hệ 3, tức là chỉ có 3 số 0, 1, 2. Dần dần, chúng tôi mới học lên hệ 10, tức là hệ số thập phân gồm các chữ số từ 0 tới 9. Học hệ nhị phân trước cho tôi một tư duy số rất khác, rất logic, tức là nếu có một điều luật, và luật quy định chỉ có hai số 0 và 1, thì mình chỉ được tập hợp vào hai số này, quây giới hạn không cho những chữ số khác được xuất hiện. Chính nhờ điều này mà sau này, khi học Tin học, tôi nắm vững khái niệm hệ nhị phân khá nhanh.
9. CHÚNG TÔI ĐƯỢC HỌC tụ hợp TỪ NĂM LỚP 1, TRONG KHI CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI TRÀ CHỈ DẠY tập trung VÀO LỚP 6
Ngày ấy, khi tôi nói về khái niệm "tập trung" với các bạn ở trường khác, không một ai hiểu tôi đang nói về điều gì. thì ra, ở trường Thực Nghiệm, chúng tôi đã được học khái niệm này sớm hơn chương trình đại trà. Từ những ngày đầu đi học, chúng tôi đã được học vẽ lược đồ Venn, học phép hợp, phép giao, phép hiệu. Chúng tôi học cái gì được có mặt trong một tụ hội, cái gì bị bỏ ra ngoài, cái gì là của chung, cái gì là của riêng. Học về tập trung là một cách để chúng tôi có thể quan niệm hoá thế giới xung quanh: ai thuộc lớp 1A, ai không thuộc lớp 1A, ai học trường Thực Nghiệm, ai không học trường Thực Nghiệm. Nhờ khái niệm hội tụ, chúng tôi cũng tự xây dựng được những khái niệm "giống nhau," "khác nhau," và học cách trân trọng sự dị biệt. Không phải cái gì cũng phải nằm trong một tập trung nào đó. Mỗi phần tử của hội tụ nhỏ không hề kém quan yếu hơn các phần tử của hội tụ to. Tư duy khác biệt bắt đầu từ những cái nhỏ như vậy. Học về giao hội cũng khiến môn Toán trở thành bớt khô khan, vì con số chỉ là con số, còn lược đồ Venn là hình vẽ, mà với trẻ thơ 6 tuổi như chúng tôi thì thấy hình vẽ hẳn nhiên sẽ hứng thú học hơn. Điều này cũng giảng giải cho phương pháp học phát âm "tiếng" nêu trên.
10. CHÚNG TÔI HỌC TIẾNG ANH song song VỚI TIẾNG VIỆT TỪ LỚP 1
Ngày tôi học tiểu học, nhiều trường khác bắt đầu dạy tiếng Anh từ năm lớp 3, thậm chí không dạy mà phải để học sinh bắt đầu học ở cấp THCS. Trường Thực Nghiệm thì khác. Chúng tôi bắt đầu tiếng Anh từ học kỳ 2 của lớp 1, cũng theo chương trình riêng của trọng tâm Công nghệ giáo dục. Tôi còn nhớ mình hứng học tiếng Anh lắm.
Được học hai ngôn ngữ song song một lúc là một trong những điều tôi cảm thấy biết ơn nhất, vì nó nghe đâu đã định hình cả chặng đường phát triển ngôn ngữ của tôi. Điều này chính cha mẹ tôi cũng rất nhiều lần xác nhận - Nguyễn Siêu.
Tôi vừa được tư duy theo tiếng Việt, vừa tư duy theo tiếng Anh, mà ở lứa tuổi tò mò và hiếu kỳ ấy thì não mình sẽ mở cửa chào đón mọi thứ mới lạ để hấp thu, mãn nguyện lòng hiếu học. Tôi có khởi đầu ở môn tiếng Anh như thế, mà chính xuất hành sớm ấy đã giúp tôi nắm chắc tiếng Anh để đấu học giỏi bộ môn này ở cấp 2 và đỗ vào lớp chuyên Anh Hà Nội - Amsterdam cấp 3.
Bên cạnh học cách nói, chúng tôi cũng được dạy tập viết từng chữ cái đặc biệt trong tiếng Anh, tỉ dụ như f hay z. Điều thích là khi các bạn ở các trường khác được dạy viết chữ f có cái đuôi nửa dưới ngoặt ra phía bên trái, thì chúng tôi lại làm tròn cong nó lên ở phía bên phải, rồi thắt nơ ở trên. Sau này, khi sang nước ngoài, tôi thấy ai cũng viết chữ f như mình được học ở Thực Nghiệm, còn chữ f như nhiều trường khác dạy thì chỉ thấy người Việt viết là nhiều. Chữ z chúng tôi cũng được dạy viết giống giống lặng đen trong âm nhạc, chứ không phải 3 nét ziczac như ký tự in. Các cô giáo ở trường Thực Nghiệm rèn chữ rất tốt. Cách viết hoa, viết thường đều được đẽo gọt, và chính nên chi mà nhiều người vẫn khen chữ tôi rất đẹp (cái này tôi kiêu hãnh thật sự). Đấy là do tôi được giáo dục cách để ý tới từng chi tiết, từng đường kẻ, từng nét cong, cẩn thận hơn vội vàng.
Cách giáo dục này để lại ấn tượng trong tôi tới mức nó đã trở thành triết lý sống của tôi và giúp tôi rất nhiều ở thời khắc hiện tại: chú trọng mọi thứ tới từng chi tiết, không chỉ nhìn bức tranh toàn cảnh không thôi - Nguyễn Siêu.
11. một đôi BỘ MÔN VÀ KỶ NIỆM KHÁC
Ở trường Thực Nghiệm, hồi lớp 3, tôi còn nhớ có môn Kỹ thuật, chúng tôi được học cách sử dụng kim chỉ. Nhờ kỹ năng này, nhiều người vẫn ngạc nhiên hỏi: "tại sao con trai mà biết may vá thêu thùa thế này." Lên lớp 4, lớp 5, chúng tôi cũng được học đan lát. quờ những kỹ năng này sau này đều khá có ích trong cuộc sống. Không phải vì tôi suốt ngày đan lát, thêu, mà vì tôi học được nhiều điều về hình khối, về tính chuẩn xác trong từng hành động, về sự khéo tay. Trong lớp Âm nhạc, tôi còn nhớ được khuyến khích tự viết lời hát, cũng là một bài học sáng tạo khác trong trải nghiệm Thực Nghiệm của tôi. Chúng tôi không có môn "Đạo đức" như nhiều trường, mà thay vào đó là "Giáo dục lối sống. Trong lớp "Giáo dục lối sống" ở trường Thực Nghiệm, chúng tôi học những điều sát với cuộc sống như: lễ phép với cha mẹ, ông bà như thế nào, trước khi ăn mời cơm ra sao, trong cuộc sống thế nà công bằng, v...v...
12. TRƯỜNG THỰC NGHIỆM CHỈ CHẤM ĐIỂM A, B, C, D VÀ KHÔNG XẾP HẠNG
Một trong những dị biệt lớn nhất ở trường Thực Nghiệm là thầy cô chỉ chấm điểm cho chúng tôi bằng chữ, tức A, B, C, D, chứ không chi li ra từng số. Điều này giúp chúng tôi biết tự đánh giá sức học của mình, nhưng cũng không quá áp lực về điểm số - Nguyễn Siêu.
Tôi thấy đây là cách giáo dục hay hơn cách chấm điểm bằng số, vì rõ ràng bệnh thành tích là một trong những căn bệnh nặng nhất của giáo dục Việt Nam, và áp lực điểm số khiến học trò Việt xoành xoạch cảm thấy buồn chán, nặng nề, ghét đi học. Để chiến đấu với bệnh thành tích, chúng tôi cũng không xếp hạng học trò trong lớp như nhiều trường khác. Mỗi học sinh tự cầm cố vượt lên trên bản thân mình là đủ, thay vì so sánh mình với người này, người kia. Đây là một điều rất nhân bản mà tôi trân trọng ở môi trường giáo dục Thực Nghiệm. Kể cả trong ngày Trung thu, mỗi lớp chúng tôi đều bày một mâm cỗ, nhà trường sẽ không trao thưởng là "Mâm cỗ đẹp nhất" thuộc về lớp nào, mà trao thưởng theo kiểu mâm cỗ của lớp này là "Mâm cỗ màu sắc nhất," của lớp kia là "Mâm cỗ có cảm hứng Hà Nội đặm đà nhất." Trường Thực Nghiệm khiến học trò chúng tôi chưa bao giờ phải ganh đua nhau, phải so bì nhau, phải cạnh tranh nhau. Mẹ tôi từng thắc mắc, "Nếu con không cạnh tranh với các bạn thì lấy động lực gì để học." Tôi chỉ trả lời, "Vì mỗi ngày đến trường là một ngày vui."
"Mỗi ngày đến trường là một ngày vui," cùng với "Đi học là hạnh phúc" là hai phương châm độc nhất của trường Thực Nghiệm. Chúng tôi không có "Tiên học lễ, hậu học văn." Chúng tôi không có "Học, học nữa, học mãi," - Nguyễn Siêu.
Một lần khi tôi hỏi vì sao lại không treo khẩu hiệu này thì cô giáo bảo rằng học sinh tiểu học sẽ không hiểu ý nghĩa sâu xa của nó, mà cứ nghĩ mình phải học suốt ngày, không được nghỉ ngơi, tức là một cách học không khoa học, trường Thực Nghiệm không khuyến khích. Trường Thực Nghiệm có thể khác biệt, nhưng chính vì những dị biệt ấy mà hồi đó tôi thích đi học hơn ở nhà. Đến trường, tôi được làm thơ. Đến trường, tôi được đọc Kiều. Đến trường, tôi được vẽ tụ tập. Đến trường, tôi được nói tiếng Anh. Đến trường, tôi không phải tập khai giảng mấy ngày liên tục dưới nắng. Đến trường, tôi không phải cạnh tranh với bạn bè vì điểm số. Đến trường, tôi không cảm thấy gì khác ngoài thương tình cho thầy cô, bè bạn. Đến trường, tôi được phát triển kỹ năng tư duy của chính mình và xây dựng chính kiến của riêng mình.
Cái gì "mới" cũng mạo hiểm, và "cũ" thì vẫn an toàn hơn - Nguyễn Siêu.
Tôi hiểu các bạn "ném đá" chương trình Công nghệ giáo dục tại sao. Bình thường, người ta bảo tôi hay viết bài chửi người khác đanh đá, nhưng trong trường hợp này, tôi không chửi ai, vì tôi hiểu vì sao các bạn tức giận. Nhiều bạn còn nhầm công trình của GS Hồ Ngọc Đại với GS Bùi Hiền, đánh đồng hai hướng "cải cách" là một, đây là một sự sai trái nghiêm trọng. Nếu các bạn được học cách tách tiếng trong mô hình chữ nhật thành hai phần biệt lập như tôi từng học, thì các bạn sẽ dễ dàng sử dụng tư duy thành phần riêng rẽ để biết được đây là hai vị giáo sư, hai đề xuất giáo dục khác nhau. Nếu các bạn được học về sự thấu cảm với người khác từ những năm tiểu học, có lẽ các bạn sẽ hiểu nhiệt huyết của thầy Hồ Ngọc Đại đổ vào chương trình này nhiều thế nào và tìm hiểu trước khi chỉ trích. Nếu các bạn được học cách trân trọng sự khác biệt như cách Thực Nghiệm dạy tôi, các bạn sẽ hiểu một điều mà đã trở thành phương châm sống của tôi cho tới ngày bữa nay:
Cái mới là mạo hiểm, nhưng mạo hiểm mới mang tới những điều vĩ đại.
Theo Siêu Nguyễn
Trí thức trẻ
Đăng nhận xét